Cuốn Vương Ở Thập Niên 60[ Mang Theo Một Xe Vật Tư Nuôi Gia Đình Ở Thập Niên 60] - Chương 101:------
Cập nhật lúc: 2025-12-28 11:40:26
Lượt xem: 47
Mời Quý độc giả CLICK vào liên kết hoặc ảnh bên dưới
mở ứng dụng Shopee để tiếp tục đọc toàn bộ chương truyện!
https://s.shopee.vn/7AXPDCwPVA
MonkeyD và đội ngũ Editor xin chân thành cảm ơn!
Về còn ai dám lấy rắn dọa cô nữa.
Kẻ quất cũng đ.á.n.h đến ngây , ôm lấy "hạ bộ" ngã lăn xuống mương thoát lũ. Mãi một lúc vẫn ngoi lên , sợ c.h.ế.t đuối trong mương Đại Hà – nước mương là nguồn nước ăn thể để ô nhiễm – nên mới vội vàng nhảy xuống vớt lên.
Chứng kiến cảnh đó, xung quanh bỗng rùng nhớ tới cái sân cắm đầy chông tre nhà Hứa Minh Nguyệt!
Hứa chủ nhiệm quả thật là hung hãn quá mức!
Thế mà gọi là sợ rắn ?
Nếu cô sợ rắn thì còn hung hãn đến mức nào nữa?
Người phụ nữ như thế , cho dù quan to đến mấy cũng chẳng ai dám rước về. Ai mà dám lấy chứ?
Cô đ.á.n.h đàn ông con trai mà tay tàn nhẫn thế cơ mà!
Ai còn dám bảo cô sợ rắn, sẽ nhét rắn quần kẻ đó cho tay!
* Từ khi thấy bốn tấm da sói ở nhà Hứa Minh Nguyệt, thôn Hứa gia như phát điên, cứ thấy bầy sói là hú hét phấn khích lao . Đám sói sợ quá chạy trối c.h.ế.t lên núi, dám bén mảng đến gần thôn, nhưng mỗi ngày vẫn cực chẳng mò xuống mương Đại Hà ở thôn Hứa để uống nước.
Sau , lẽ vì quá sợ dân làng thôn Hứa, chúng men theo lòng sông, về phía thành phố lân cận, đến khu vực Cửa Sông Bồ.
Để thuận tiện cho việc tưới tiêu, Phô Cửa Sông đào thêm ba con mương dọc và một con mương ngang từ sông Đại Hà.
Thú rừng núi, ngoài việc xuống uống nước ở mương Đại Hà thôn Hứa và mương thoát lũ thôn Giang, thì nơi chúng lui tới nhiều nhất chính là Phô Cửa Sông. Ở đó rộng lớn, hệ thống kênh rạch cũng nhiều.
Hứa đại đội trưởng thấy nhiều động vật đến uống nước như thì mừng húm.
Hai năm nay, ngoài chút thịt chia dịp Tết, ngày thường ăn cháo lá sen khiến mặt ai nấy đều xanh như tàu lá chuối!
Giờ thấy thịt dâng tận miệng, thể bỏ qua?
Ông dẫn theo tiểu đội dân binh Phô Cửa Sông lao chiến!
Thư Sách
Đừng Hứa chủ nhiệm, ngay cả đám dân tị nạn thấy bầy sói, lợn rừng, mắt ai nấy cũng sáng rực lên như đèn pha ô tô.
Ban đầu họ còn sợ bầy sói, vì một con sói thì dễ đối phó, nhưng cả một đàn sói là cơn ác mộng.
bầy sói cũng ngàn vạn ngờ tới, thoát khỏi hang hùm đại đội Lâm Hà và thôn Hứa gia, gặp bầy sói đói khát khác sự chỉ huy của Hứa chủ nhiệm "phát rồ".
Sau khi tổn thất thêm mấy con sói, bầy sói tởn đến già, dám bén mảng đến thôn Hứa và Cửa Sông Bồ kiếm ăn nữa. Chúng tránh xa hai cái ổ "bệnh thần kinh" , đường vòng về phía bờ sông xa hơn hướng về thành phố lân cận.
Hứa chủ nhiệm thấy thời gian thú rừng xuống núi nhiều, sợ đại đội Lâm Hà gặp nguy hiểm nên mỗi ngày đều phái một tiểu đội dân binh về canh gác các lối của đại đội.
Ngoài việc phòng ngừa thú dữ tấn công , còn để đề phòng của các đại đội khác và dân miền núi tràn xuống cướp bóc.
Mấy huyện thị trấn trực thuộc thành phố lân cận thổ phỉ từ nơi xa hơn cướp sạch sành sanh. Đám thổ phỉ chỉ cướp của, g.i.ế.c , đ.á.n.h u đầu chảy m.á.u, cướp đồ là chạy biến rừng, tìm cũng thấy tung tích.
Ai cũng đại đội Lâm Hà lương thực, cướp Lâm Hà thì cướp ai?
Người trong vùng cũng hiểu đạo lý "quả hồng mềm dễ nắn", họ dám dây thôn lớn 700-800 dân như thôn Hứa và thôn Giang, bèn sang cướp bóc ba thôn Thi, Hồ, Vạn.
Gặp thôn Giang thì giả vờ đáng thương, dập đầu xin ăn.
Gặp thôn Hứa thì chẳng chẳng rằng, đường vòng cho lành.
Hứa chủ nhiệm yêu thương dân đại đội Lâm Hà bao nhiêu thì sắt đá với ngoài bấy nhiêu.
Anh sắp c.h.ế.t đói, uống một bát nước cơm của ông , cũng việc cho ông !
Việc ở Cửa Sông bồ mãi hết!
Ngoài 6.000 mẫu đất ở Cửa Sông Bồ, ông còn khai hoang thêm mấy ngàn mẫu bãi bồi nữa.
Khoai lang, đậu nành thu hoạch từ đất khai hoang thêm , ông nộp lên một hạt nào. Số nộp lên chỉ hàng ngàn vạn cân khoai lang sản xuất từ nông trường Phô Cửa Sông, đây cũng là lý do ông đủ lương thực để cưu mang nhiều dân tị nạn đến thế.
Không ai khi nào trời mưa, Hứa chủ nhiệm tranh thủ lúc trời mưa, mau ch.óng tu sửa xong đê đập và thủy lợi ở Cửa Sông Bồ, để 6.000 mẫu đất thực sự trở thành ruộng lâu dài.
Dưới sự trợ giúp của hàng ngàn hàng vạn dân tị nạn, đến năm thứ ba của nạn hạn hán, cuối cùng hệ thống đê điều ở Cửa Sông Bồ và đại đội Lâm Hà cũng xây dựng xong.
Hai con đê thành thì cũng là cuối năm 61. Ông trời rốt cuộc cũng trút xuống cơn mưa lớn đầu tiên ba năm đằng đẵng.
Cái gì gọi là "nắng hạn gặp mưa rào", chính là đây!
Suốt ba năm trời!
Củ sen ở sông Trúc T.ử đào đến tuyệt diệt!
Trai sông, ốc đồng bãi bồi sông Trúc T.ử ăn đến tuyệt chủng!
Người dân bao đời sống bên sông Đại Hà, ai thể ngờ ngày củ sen mọc hoang bạt ngàn đào sạch còn mống nào để mọc ? Ai thể ngờ trai sông từng nhiều vô kể, dẫm một cái là thấy bốn năm con, ngày ăn đến tuyệt chủng?
Tất cả những gì ăn đều ăn sạch, ngay cả rễ cỏ lau cũng đào lên ăn.
Cả bãi bồi sông Trúc T.ử đào bới nham nhở, chỗ nông chỗ sâu. Mãi đến mười mấy năm , những bãi bồi vẫn là nơi nguy hiểm. Bởi vì ai lớp nước chỉ đến cổ , giây tiếp theo là một cái hố sâu hoắm chực chờ nuốt chửng . Ngay cả trẻ chăn trâu cũng dám cưỡi trâu xuống nước ở đây.
Khi những giọt mưa rơi xuống, rõ ràng là đầu đông lạnh giá, nhưng mưa rơi, vô dân tị nạn sống sót nhờ bám trụ ở Cửa Sông Bồ đều bật , quỳ rạp xuống bùn đất, dầm mưa .
[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyD.net.vn - https://www.monkeydtruyen.com/index.php/cuon-vuong-o-thap-nien-60-mang-theo-mot-xe-vat-tu-nuoi-gia-dinh-o-thap-nien-60/chuong-101.html.]
Rất nhiều của họ c.h.ế.t đói trong trận thiên tai kéo dài ba năm .
Nhiều dân tị nạn thậm chí trụ nổi để đến phía nam tỉnh, bỏ mạng dọc đường vì đói, vì khát, hoặc vì ăn quá nhiều đất quan âm (cao lanh) vệ sinh mà trướng bụng c.h.ế.t.
Nhiều đến phía nam tỉnh – nơi nguồn nước, nhưng tình hình cũng chẳng khả quan hơn. Lương thực điều hết năm qua năm khác khiến dân bản địa còn sống nổi, c.h.ế.t đói vô , gì đến việc chia sẻ cho dân tị nạn một miếng cơm.
Hứa Minh Nguyệt vẫn luôn để ý đến bà ở thôn Ngô thuộc đại đội Hòa Bình. Không do hiệu ứng cánh bướm khi cô xuyên đến , mà ở thời , cả hai đại đội Hòa Bình và Kiến Thiết đều trồng xen canh khoai lang và đậu nành bãi bồi. Dù lương thực của họ cũng điều nhiều, nhưng nhờ đậu và lạc thu từ bãi bồi, dân hai đại đội vẫn gian nan sống sót qua ngày.
cũng chỉ là sống sót mà thôi.
Họ tuy dân tị nạn từ nơi khác đến, nhưng tình cảnh cũng chẳng khá hơn là bao. Tệ hơn nữa là những thôn nhỏ như thường xuyên dân tị nạn và từ trong núi tràn cướp bóc, c.h.é.m g.i.ế.c.
Hứa Minh Nguyệt tận mắt chứng kiến sự gian nan của con thời đại , môi trường sống hiểm ác nhường nào. Ngoài việc chống chọi thiên tai, họ còn đối mặt với nhân họa.
Đến năm thứ ba của nạn hạn hán, dù thôn Hứa gia tiểu đội dân binh canh gác, trai tráng trong thôn phiên tuần tra ngày đêm, nhưng cũng tránh khỏi việc đụng độ với thổ phỉ từ trong núi .
Cũng may thôn Hứa hung hãn tiếng, đ.á.n.h với thổ phỉ đến sứt đầu mẻ trán cũng lùi bước nửa bước, nhờ đó mà thôn chịu tổn thất gì đáng kể.
Số cồn I-ốt và bông băng Hứa Minh Nguyệt tích trữ suốt ba năm qua cuối cùng cũng đất dụng võ.
Về nguồn gốc cồn I-ốt, khi chị dâu sinh, cô đến bệnh viện thành phố lân cận dùng phiếu để đổi.
Từ một năm , khi hàng chục vạn, hàng trăm vạn cân lúa và khoai lang của đại đội Lâm Hà điều , Hứa Minh Nguyệt thăng chức lên Ủy viên Đảng ủy công xã Thủy Phụ, kiêm chức Chủ nhiệm Hội phụ nữ nông trường Cửa Sông Bồ, từ cán bộ cấp 28 lên cấp 25.
Cấp bậc thăng lên đồng nghĩa với lương và phiếu cũng tăng theo. Lương và phiếu của cô ở cả đại đội Lâm Hà chỉ Hứa chủ nhiệm ở nông trường Phô Cửa Sông.
Mọi đều lương cô cao, phiếu nhiều, nhưng cụ thể bao nhiêu tiền, những loại phiếu gì thì ai rõ.
Phiếu thời hạn, hết hạn dùng là bỏ, nên chuyện cô mua cồn I-ốt và bông băng để ở nhà là hết sức bình thường.
Hơn nữa lọ cồn I-ốt đen sì, nhãn mác xé, nước bên trong cũng đen thui, bôi lên vết thương cũng chẳng phân biệt là t.h.u.ố.c gì, tóm là t.h.u.ố.c nước.
Thời đại nhiều loại t.h.u.ố.c nước đều đen sì như thế, chẳng ai nghi ngờ gì cả.
Có t.h.u.ố.c bôi vết thương là , ai quan tâm đó là t.h.u.ố.c gì chứ?
Còn về băng gạc, Hứa Minh Nguyệt thì cũng , thì cũng .
Số băng gạc trong tủ t.h.u.ố.c của cô là loại băng cá nhân còn dư từ đưa Tiểu A Cẩm chơi ngã trầy da, đến trạm y tế cộng đồng băng bó. Khác với băng gạc cuộn thời , nó hình vuông, chỉ miếng gạc ở giữa, xung quanh là băng dính dán lên da. Lúc đó cô mua thêm nhưng trạm y tế cho.
Qua ba năm mới gian, cô cũng chỉ tích hơn ba mươi miếng. Ba năm qua hai con va quệt dùng bớt , giờ chỉ còn đến 30 miếng.
Cô định dán loại băng cho họ, nhưng chê, bảo dán lên mặt trông như Hán gian ( phim hình tượng Hán gian dán cao ch.ó thái dương).
Hứa Minh Nguyệt đến đại đội Hòa Bình nhiều , chỉ sợ nhà bà nội xảy chuyện gì. Mỗi đến, cô đều lén để một túi đậu nành lên cửa sổ bếp nhà bà, từ xa ném hòn đá nhỏ cửa sổ báo hiệu.
Ban đầu cả nhà bà nội cứ tưởng trai nào để ý bà (lúc bà còn trẻ) nên mới lén lút tiếp tế lương thực quý giá. Kết quả ba năm trời vẫn tìm " trai thầm thương trộm nhớ" là ai.
Tìm quanh một vòng, ai nấy đều đói vàng mắt giống nhà bà, sống còn chả nổi, lấy lương thực thừa mà cho?
Dù bãi bồi trồng khoai lang năng suất nghìn cân mỗi mẫu, nhưng điều hơn nửa, phần còn chỉ đủ cầm .
Ba năm hạn hán , nông trường Cửa Sông Bồ dựa hơn 6.000 mẫu khoai lang, chỉ riêng khoai điều lên đến hàng ngàn vạn cân. Số khoai cứu sống bao nhiêu mạng , nuôi sống bao nhiêu dân tị nạn xua đuổi dồn về đây, chỉ chính những trong cuộc mới thấu hiểu. Họ sống sót nhờ khoai lang và đậu nành mà Hứa chủ nhiệm cho trồng xen canh ở bãi bồi bên ngoài nông trường Cửa Sông Bồ. Dù ai nấy đói đến mức hình , nhưng ít nhất họ vẫn còn sống.
Rất nhiều kìm cảm xúc, giữa trời mưa mà nước mắt tuôn rơi.
Hứa chủ nhiệm trời rốt cuộc cũng đổ mưa, thở phào nhẹ nhõm. Cuối cùng trời cũng mưa, ông trời cho họ một con đường sống.
Nếu trời còn mưa, ông cũng hết cách, sông Trúc T.ử cạn trơ đáy .
Như để bù đắp cho ba năm hạn hán, cơn mưa kéo dài suốt ba ngày mới tạnh.
Qua cơn xúc động, những nông dân già mưa rơi ngớt, tiếng địa phương: "Thôi! Thôi! Thế cũng ! Cuối cùng cũng mưa ! Mưa là !"
Nói xong lấy tay áo quệt nước mắt mà .
Đê Cửa Sông Bồ đắp xong từ sớm. Con đê cao dài bao bọc c.h.ặ.t chẽ hơn 6.000 mẫu bãi bồi bên trong, ngăn dòng nước sông thể dâng cao ở bên ngoài.
Trên doi đất cao tựa như sống lưng con rồng tre thẳng tắp dài hơn trăm mét gần thành phố lân cận, một kiến trúc xi măng sừng sững mọc lên như pháo đài cổ, trấn giữ yết hầu đường thủy từ Phô Cửa Sông thông sang thành phố.
Đoạn sông vốn chỉ dài hơn trăm mét bùn bồi lắng, nay dân tị nạn đào sâu 3 mét, rộng gần 200 mét. Bùn đất đào lên đắp sang hai bên bờ, khiến doi đất vốn cao nay càng thêm cao và dốc .
Lúc , nhiều dân tị nạn đang trú ẩn trong khu nhà cải tạo lao động - vốn xây dựng nhà tù cho nông trường.
Khu nhà cực lớn, chiều dài và rộng ước chừng ba bốn trăm mét, kiến trúc kiểu tứ hợp viện, bốn mặt đều là phòng, giống như chữ "Hồi" (回) l.ồ.ng . Lớp chữ "Khẩu" (口) bên trong là nhà một tầng, lớp chữ "Khẩu" to bên ngoài đều là nhà hai tầng cao ráo. Tường ngoài cao chừng 6 mét. Bốn góc nhà tù cải tạo lao động đều tháp canh cao sáu bảy mét, mục đích ban đầu là để canh gác, dễ dàng quan sát và phát hiện phạm nhân bỏ trốn.
Thực quy hoạch ban đầu của nhà tù nông trường Cửa Sông Bồ lớn đến thế, nhưng do lượng dân tị nạn quá đông, lãnh đạo cấp nơi thể duy trì sự sống, lương thực cứu trợ nên đành dồn dân tị nạn về đây.
Dân quá đông, mùa xuân, hạ, thu còn đỡ, chứ mùa đông dù là mùa đông ấm thì cũng lạnh giá. Dân tị nạn chỗ ở, chỉ còn cách mở rộng quy mô nhà tù để chứa thêm .