Xuyên Về Cổ Đại, Ta Khởi Nghiệp Từ Bán Trà Sữa - Chương 79: --- Khó khăn của chuyến Nam độ
Cập nhật lúc: 2026-03-08 16:57:15
Lượt xem: 1
Mời Quý độc giả CLICK vào liên kết hoặc ảnh bên dưới
mở ứng dụng Shopee để tiếp tục đọc toàn bộ chương truyện!
https://s.shopee.vn/8zz50AgD0c
MonkeyD và đội ngũ Editor xin chân thành cảm ơn!
Gió tháng mười một năm Tĩnh Khang thứ nhất, như lưỡi đao luyện trong băng, cắt qua bức tường thành đổ nát của Biện Kinh.
Lá cờ chữ "Tống" tháp thành sớm khói pháo nhuộm đen, trong gió rũ xuống yếu ớt, như một con chim gãy cánh.
Lâm Nguyệt ở cửa hầm của miếu đổ nát, tiếng Kim binh công thành từ xa càng lúc càng gần, móng tay nàng siết c.h.ặ.t lòng bàn tay.
Đêm qua, Triệu Minh mạo hiểm đầu rơi m.á.u chảy lẻn đến báo tin, rằng binh sĩ giữ thành còn đủ ba phần, Kim quân sẽ phá thành rạng sáng ngày mai, bảo nàng nhất định dẫn nam đào: "Còn núi xanh thì lo gì ngày trở về."
Trong hầm, hai mươi con Ngưng Hương Ngưu chia nhốt trong những l.ồ.ng gỗ tạm bợ, cổ mỗi con bò đều buộc dải lụa đỏ, đó là Ách Nữ buộc suốt đêm, nàng "lụa đỏ thể trừ tà".
Triệu lão hán xổm bên cạnh đàn bò, dùng nắm cỏ khô cuối cùng khẽ vuốt ve trán một con bò , con bò là con "Ngưng Hương" sinh sớm nhất, giờ là của năm con nghé nhỏ, nước mắt nhỏ xuống lông bò, ướt một vệt nhỏ.
"Tỷ tỷ, chuẩn xong cả ."
A Đào vác một cái bọc phồng to, bên trong chứa đựng bộ gia sản của họ: nửa túi bột bánh gạo rang chín, ba mươi cân thu gói trong giấy dầu, "Ngưu Bệnh Đồ Phổ" do Ách Nữ vẽ, còn "Nai Trà Phổ" do Lâm Nguyệt chép suốt đêm.
Cuốn phổ mới chép dày hơn nhiều, mấy trang cuối "Công thức khẩn cấp thời chiến".
Dùng gạo rang bánh gạo để tăng cảm giác no bụng, dùng cúc dại để thanh nhiệt giải độc, thậm chí còn cách "dùng xương bò nấu canh, sữa lót ", mỗi một chữ đều thấm đẫm sự hoảng loạn của thời loạn lạc.
Lâm Nguyệt cuối cùng một cái miếu đổ nát, bụi bặm tượng thần lơ lửng trong ánh sáng ban mai, nàng dường như thấy chính nhiều năm , đang nấu sữa vại đất.
Nàng hít sâu một , đút "Nai Trà Phổ" lòng, giọng mang theo sự kiên định thể nghi ngờ.
"Đi! Ách Nữ dẫn ba con bò đực khỏe nhất mở đường, Triệu bá hộ tống bò và nghé con giữa, A Đào và cùng."
"Hãy nhớ, còn thì bò còn, giống còn!"
Đội ngũ nam đào như một con rắn im lặng, hòa lẫn trong dòng tị nạn như thủy triều, di chuyển về phía cửa thành.
Lính gác ở cửa thành sớm tan rã, chỉ vài thương binh tựa chân tường, dòng tị nạn mà thở dài than vãn.
Lâm Nguyệt bảo Ách Nữ dắt "Mặc Ngọc" – con bò đực Tây Vực giờ là bò giống của Ngưng Hương Ngưu, thể trạng khỏe nhất, thể dọa lùi ch.ó hoang và lưu dân cướp lương.
Vừa khỏi cửa thành, liền thấy phía truyền đến tiếng hô hoán và than vang trời – Kim binh phá thành.
Lâm Nguyệt đầu , chỉ thấy khói đặc từ trong thành bốc lên, che khuất mặt trời đến mức thành màu m.á.u, nàng c.ắ.n c.h.ặ.t môi, mới để nước mắt rơi xuống.
1_Ách Nữ đột nhiên quỳ xuống hướng về phía Biện Kinh, dập ba cái đầu, đó dậy, dắt bò, đầu mà bước tiếp, bóng lưng trong gió lạnh trông vẻ đặc biệt quật cường.
Con đường nam độ, khó khăn hơn trong tưởng tượng.
Ngày đầu tiên, họ gặp những binh lính bại trận tan rã.
Mười mấy binh sĩ thấy họ dắt bò, mắt đỏ ngầu xông lên cướp đoạt, rằng "những con bò nên sung quân lương".
A Đào vớ lấy cây gậy gỗ bên đường, chặn đàn bò, nàng thường xuyên rèn luyện bếp lò, sức lực còn lớn hơn nam giới bình thường, một gậy đ.á.n.h ngã binh sĩ cầm đầu xuống đất.
"Đây là bò cứu mạng!"
Nàng gào lên, mặt vương m.á.u đối phương: "Muốn g.i.ế.c xẻo thì cứ nhắm , đừng động đến chúng!"
Lâm Nguyệt thừa cơ bảo Triệu lão hán dẫn đàn bò chui rừng rậm, còn thì móc chút bạc vụn cuối cùng, ném cho những binh sĩ đó.
"Số bạc cho các ngươi, mua chút đồ ăn, tha cho chúng một con đường sống."
Các binh sĩ thấy bạc, sự hung hăng của A Đào dọa sợ, c.h.ử.i rủa nhặt bạc bỏ .
Trốn trong rừng rậm, mới dám thở phào nhẹ nhõm.
Ách Nữ kiểm tra đàn bò, phát hiện một con nghé con cai sữa hoảng sợ đến mềm chân, dậy , nàng ôm con nghé, dùng ấm cơ thể sưởi ấm nó, nước mắt từng giọt từng giọt rơi lưng con nghé lông lá.
Lâm Nguyệt nấu một chút sữa nóng, dùng muỗng gỗ từng chút một đút cho nghé con, cho đến khi mắt nó thần sắc, mới sụp xuống đất, phát hiện cánh tay đao cứa một vết, m.á.u đông thành màu đỏ sẫm.
Những ngày tiếp theo, họ bôn ba như ch.ó hoang.
Ban ngày sợ Kim binh, trốn trong rừng dám ngoài.
Ban đêm sợ dã thú, đốt lửa trại canh giữ đàn bò.
Cái thiếu nhất là lương thực và nước, họ nấu bột bánh gạo thành cháo loãng, mỗi một ngụm chia uống, bò chỉ thể ăn cỏ khô ven đường, một bò bắt đầu mất sữa, nghé con đói đến kêu ngừng.
Khi đến bờ Hoài Hà, trời bắt đầu đổ mưa đóng băng.
Con đường lầy lội khiến móng bò mài m.á.u, một con bò già lún sâu bùn, kéo thế nào cũng .
Triệu lão hán sấp trong bùn, vác con bò , nhưng lạnh đến run rẩy, ho đến như ho cả phổi ngoài.
"Bỏ cuộc ." Lâm Nguyệt c.ắ.n răng , nước mắt nàng rưng rưng: "Kéo dài thêm nữa, tất cả đều sẽ c.h.ế.t ở đây."
Ách Nữ ôm cổ bò già, chịu buông tay.
Con bò là do nàng tự tay đỡ đẻ, nó thích ăn cỏ linh lăng còn đọng sương, nó sợ sấm sét, mỗi mưa đều chui lòng nàng.
[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyD.net.vn - https://www.monkeydtruyen.com/index.php/xuyen-ve-co-dai-ta-khoi-nghiep-tu-ban-tra-sua/chuong-79-kho-khan-cua-chuyen-nam-do.html.]
giờ phút , bò già chỉ yếu ớt l.i.ế.m l.i.ế.m tay nàng, đó từ từ nhắm mắt .
Cuối cùng họ thể mang theo bò già.
Lâm Nguyệt bảo đào một cái hố bên đường, chôn con bò. Á Nữ cắm một dải lụa đỏ mộ, đó là dải lụa tháo từ cổ con bò .
Đi thật xa, vẫn thấy dải lụa đỏ lay động trong mưa đông, như một dấu chấm câu nhỏ bé.
Khi qua Hoài Hà, họ gặp một nguy cơ lớn hơn.
Thuyền ở bến đò quân lính tan rã cướp sạch, chỉ còn mấy chiếc thuyền đ.á.n.h cá cũ nát. Chủ thuyền hét giá cao ngất trời, : “Qua sông là đường sống, chút bạc sá chi.”
Lâm Nguyệt đưa cho chủ thuyền món trang sức bạc cuối cùng nàng — đó là cây trâm bạc do Thái hậu ban tặng, chỉ cầu mong và bò đều thể lên thuyền.
Thuyền quá nhỏ, mỗi chỉ chở năm con bò và năm .
Họ chia bốn lượt để qua sông, đến lượt cuối cùng, phía bờ sông bên đột nhiên vang lên tiếng reo hò — kỵ binh quân Kim đuổi tới.
Chủ thuyền sợ hãi định nổ máy, Lâm Nguyệt giữ c.h.ặ.t mái chèo: “Đợi ! Vẫn còn ba con bò lên!”
“Đợi nữa thì mất mạng!”
Chủ thuyền gào thét, dùng sào chống thuyền. Á Nữ đột nhiên nhảy dòng nước sông lạnh buốt, lùa ba con bò còn lên thuyền, nhưng bò sợ nước, cứ loanh quanh bên bờ.
Mũi tên của quân Kim bay tới, lướt qua tai Lâm Nguyệt, găm c.h.ặ.t ván thuyền, lông đuôi tên còn đang run rẩy.
“Đi mau!”
Triệu Lão Hán đẩy Lâm Nguyệt khoang thuyền, ông ở mũi thuyền, dùng che chắn cung tên, : “Giữ bò, giữ giống , còn hơn vạn thứ!”
Thuyền cuối cùng vẫn khởi hành.
Lâm Nguyệt ghé mạn thuyền, Á Nữ đang vật lộn trong nước, ba con bò quân Kim vây , Triệu Lão Hán trúng một mũi tên, ngã gục mũi thuyền, nước mắt nàng tuôn như chuỗi ngọc đứt dây.
Cho đến khi thuyền cập bến, Á Nữ A Đào kéo lên thuyền, cả nàng tím tái vì lạnh, miệng vẫn còn dấu “bò... bò...”, tay Triệu Lão Hán vẫn nắm c.h.ặ.t túi giống trong khoang thuyền, bao giờ buông nữa.
Qua khỏi Hoài Hà, quân truy đuổi của quân Kim dần thưa thớt, nhưng trong đoàn càng ngày càng ít .
Triệu Lão Hán thể qua khỏi, họ chôn ông một cây hòe cổ thụ, đặt một túi nhỏ giống mộ.
Ông vẫn luôn : “Đợi bình yên, tự tay trồng một vườn .”
Đàn bò từ hai mươi con chỉ còn mười con, con “Mặc Ngọc” khỏe nhất vì che chở nghé con mà ch.ó hoang c.ắ.n chân, khập khiễng.
Giống cũng mất quá nửa.
Túi gai dầu rơi xuống nước khi qua sông, túi vải mưa ngấm hỏng, cuối cùng chỉ còn mười túi giống , Lâm Nguyệt ôm c.h.ặ.t chúng lòng, ngủ cũng dám buông tay, đó là hy vọng tương lai của họ.
Đến Thái Thạch Cơ bên bờ Trường Giang, là đầu xuân Tĩnh Khang năm thứ hai.
Mưa Giang Nam ấm áp, rơi xuống thể như những hạt băng vụn phương Bắc, mà mang theo nước ẩm ướt.
Lâm Nguyệt bảo nghỉ chân trong một ngôi miếu sơn thần bỏ hoang, Á Nữ nhóm lửa nấu chút sữa, dùng công thức khẩn cấp.
Gạo rang xay thành bột, hòa lẫn với chút sữa bò còn , tuy sánh đặc như , nhưng mang theo chút ấm áp thoang thoảng.
Mười con Ngưng Hương ngưu buộc cột phía miếu, gầy đến nỗi thấy rõ xương sườn, nhưng vẫn yên lặng nhai cỏ khô.
Lý An đắp t.h.u.ố.c lên chân thương của “Mặc Ngọc”, đứa trẻ đường lớn lên ít, nét ngây thơ khuôn mặt gió sương mài giũa thành kiên nghị.
A Đào kiểm kê giống còn , phát hiện mấy túi nảy mầm, mắt nàng sáng lên: “Cô nương, xem! Chúng nảy mầm !”
Lâm Nguyệt những chồi non xanh biếc , đột nhiên bật .
Từ Biện Kinh đến Giang Nam, nghìn dặm đường xa, mười con bò c.h.ế.t, mất quá nửa giống , Triệu Bá thể theo kịp, vườn và bãi chăn nuôi hóa thành ảo ảnh, nhưng rốt cuộc họ vẫn sống sót.
Cuốn “Nãi Trà Phổ” trong lòng nàng nước mưa nhăn nheo, nhưng mấy trang “công thức khẩn cấp thời chiến loạn” rõ ràng lạ thường, như đang kể đoạn đường hiểm nguy .
Á Nữ bưng tới một chén sữa gạo rang, đưa cho Lâm Nguyệt.
Lâm Nguyệt nhận lấy chén, chất lỏng ấm nóng trượt cổ họng, mang theo mùi thơm cháy của gạo rang và vị ngọt dịu của sữa bò, lan tỏa khắp cơ thể mệt mỏi.
Mèo Dịch Truyện
Nàng cây liễu đang đ.â.m chồi ngoài miếu sơn thần, ánh sáng bừng lên trong mắt Á Nữ, chợt cảm thấy, chỉ cần chén sữa còn đó, chỉ cần họ còn thể nấu hương vị ấm nóng , Ngưng Hương Ký vẫn còn đó.
Khó khăn khi Nam Độ mài mòn sự bình yên của họ, nhưng mất căn cơ của họ.
Mười con Ngưng Hương ngưu, mười túi giống nảy mầm, một cuốn “Nãi Trà Phổ” thấm đẫm m.á.u và nước mắt, cùng tấm lòng tương trợ lẫn , đủ để họ ở vùng Giang Nam xa lạ , gieo hạt giống của Ngưng Hương Ký.
Mưa tạnh, ánh nắng xuyên qua cửa miếu rọi , chiếu lên những giống đang nảy mầm, lấp lánh ánh sáng nhỏ.
Lâm Nguyệt , câu chuyện mới, sắp bắt đầu .