Xuyên Về Cổ Đại, Ta Khởi Nghiệp Từ Bán Trà Sữa - Chương 94: --- Tượng Đài Vô Thanh Của A Nữ

Cập nhật lúc: 2026-03-08 16:57:31
Lượt xem: 2

Mời Quý độc giả CLICK vào liên kết hoặc ảnh bên dưới

mở ứng dụng Shopee để tiếp tục đọc toàn bộ chương truyện!

https://s.shopee.vn/20pKfFvLpl

MonkeyD và đội ngũ Editor xin chân thành cảm ơn!

 

Thanh minh năm Thuần Hy thứ mười hai, ở Ngưng Hương Mục Trại ngoại ô Lâm An, mưa phùn bay lất phất, ướt những cành liễu mới đ.â.m chồi, cũng ướt tấm bia đá cô độc.

 

Bia đá bằng thanh thạch, nước mưa gột rửa trở nên ánh lên vẻ lạnh lẽo, đó khắc tám chữ: “Truyền nghệ vô thanh, vị truyền thiên lý”, nét b.út mộc mạc, nhưng toát lên một sự cố chấp.

 

Đó là do A Hòa, đại đồ của A Nữ, tự tay khắc, khi khắc đến nét cuối cùng, móng tay nàng mài m.á.u, nhuộm đỏ nét cuối cùng của chữ “lý”.

 

Trước bia bày ba bát sữa, một bát là vị Biện Kinh nguyên bản, váng sữa dày đến mức thể đỡ thìa bạc.

 

Một bát là Long Tỉnh Băng Lạc, đá bào từ từ tan chảy trong mưa, hòa lẫn với hương quế ngọt ngào.

 

Và một bát là sữa gạo rang giản dị nhất, hương gạo quyện với hương sữa, giống hệt ấm cứu mạng đường Nam độ năm xưa.

 

Đây là ba hương vị A Nữ thường nhất khi còn sống, nay do các đồ , đồ tôn của nàng mang đến, đặt bia, như thể nàng vẫn đang bên bếp lò, dùng thìa bạc nhẹ nhàng khuấy động chất sữa trong nồi đồng.

 

A Nữ tháng Giêng năm Thuần Hy thứ mười hai, qua sinh nhật bảy mươi bảy tuổi.

 

Hôm , nàng vẫn còn dạy đồ tôn nhỏ nhất đ.á.n.h kem sữa, thìa bạc nhanh trong bát, kem sữa chất thành đống như đóa sen tuyết.

 

sáng sớm ngày hôm , khi gọi nàng, phát hiện nàng úp tấm bảng gỗ cạnh bếp lò, trong tay vẫn nắm c.h.ặ.t một tấm bảng gỗ vẽ bò Ngưng Hương, mặt mang theo nụ , như kết thúc một giấc mơ về sữa.

 

Tin tức truyền đến mười tiệm chi nhánh, các chưởng quầy đều vội vàng trở về.

 

“Hòa Hương Ký” của A Hòa sớm truyền cho con trai, nàng nay tóc mai bạc trắng, chống gậy, nhưng vẫn cứng rắn từng bước một từ Bắc Ngõa T.ử di chuyển đến tổng quán, sờ chiếc nồi đồng A Nữ từng dùng, như một đứa trẻ.

 

“Sư phụ dạy hớt bọt, luôn nắm tay , thử thử , cho đến khi thể hớt lớp bọt mỏng hơn cả cánh ve…”

 

Xuân Đào, chưởng quầy tiệm “Đào Ký” ở phố Hà Phường nổi tiếng nghiêm khắc, ngay cả góc độ lau nồi của học trò cũng quản, giờ phút canh giữ linh cữu A Nữ, ôm c.h.ặ.t cuốn “Trà Sữa Yếu Quyết” lòng.

 

“Sư phụ năm xưa vẽ tấm bảng gỗ ‘sữa tươi hỏng’, cố ý dùng b.út chì đỏ vẽ ba lượt, ‘đây là chuyện liên quan đến tính mạng con , thể qua loa’…”

 

A Miêu nhỏ nhất, cô bé năm xưa dám xông pha phố Tân Tống, giờ là lão chưởng quầy con cháu quây quần, nàng mang đến một miếng bánh mì lúa mạch, theo phương pháp A Nữ dạy, cứng cáp, mang theo hương lúa mạch.

 

“Sư phụ , bánh mì lúa mạch nhào đủ trăm , mới thể nhai vị, giống như cuộc sống, chịu đựng…”

 

Các nàng canh giữ ba ngày ba đêm, ai quá nhiều lời, chỉ là nấu sữa lặp lặp , như thể chỉ cần nồi đồng vẫn còn sôi sùng sục, sư phụ vẫn còn đó.

 

Ngày xuất tang, bách tính thành Lâm An tự phát đến tiễn đưa, những đứa trẻ năm xưa lớn lên nhờ uống sữa của nàng, nay là thương lái gánh hàng rong.

 

Có những nạn dân từng uống sữa gạo rang nàng chia ở miếu đổ nát, nay là lão ông con cháu đầy nhà.

 

Ngay cả lão ngự trù trong cung cũng đến, cầm một tấm gỗ do tự tay lão khắc, đó vẽ hình A Nữ dạy lão “Bách Phúc Trà Sữa”.

 

“Đời của nàng, từng một lời nào, nhưng hiểu hơn ai hết cách cho cuộc sống hương vị.”

 

Trong đám đông đưa tang, lẩm bẩm như , mưa phùn rơi mặt lão, hòa lẫn với nước mắt chảy xuống.

 

Mèo Dịch Truyện

Các đồ bàn bạc dựng bia cho A Nữ, tranh luận lâu, nên khắc gì lên đó.

 

nên khắc "Nghê Hương Tông Sư", cảm thấy đủ trọng lượng.

 

nên khắc "Nãi Trà Thánh Thủ", cảm thấy thể hiện tài nghệ.

 

A Hòa lắc đầu, nàng nhớ cử chỉ mà sư phụ vẫn luôn yêu thích – chỉ bếp lò, chỉ tấm bảng gỗ, chỉ đôi tay của các t.ử, cuối cùng là chỉ nụ của khách hàng.

 

"Bản lĩnh của sư phụ, ở danh tiếng, mà ở đôi tay ."

 

A Hòa vuốt ve chiếc thìa bạc mà nàng câm từng dùng, cán thìa mòn nhẵn.

 

"Nàng dùng tay dạy chúng nhận bò, phân biệt , khống chế lửa, dùng tay chỉ dẫn chúng cách đ.á.n.h bọt sữa, cách nấu mật tương, dùng tay nhào nặn những tâm tư thể bày tỏ, từng chút một sữa."

 

Cuối cùng, nàng đề b.út xuống "Truyền Nghệ Vô Thanh, Vị Truyền Thiên Lý".

 

"Truyền Nghệ Vô Thanh", rằng nàng từng thốt một lời, nhưng truyền thụ bộ tài nghệ.

 

"Vị Truyền Thiên Lý", rằng hương vị sữa của nàng, từ Lâm An bay đến Tô Châu, Hàng Châu, Tuyền Châu, thậm chí theo thuyền buôn trôi dạt hải ngoại.

 

Bia đá dựng cạnh chuồng bò tại Mục trường Nghê Hương, nơi nuôi dưỡng hơn ba trăm con bò "Giang Nam Xuân".

 

[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyD.net.vn - https://www.monkeydtruyen.com/index.php/xuyen-ve-co-dai-ta-khoi-nghiep-tu-ban-tra-sua/chuong-94-tuong-dai-vo-thanh-cua-a-nu.html.]

Đây là thành tựu kiêu hãnh nhất của nàng câm.

 

Năm xưa, giống bò Nghê Hương dời xuống phương Nam là giống phương Bắc, đến Giang Nam liền hợp thủy thổ, thường xuyên sinh bệnh, sữa sản cũng ngày càng loãng.

 

Nàng câm lo lắng đến mất ngủ, đêm đêm túc trực trong chuồng bò, quan sát chế độ ăn uống, tập tính của bò, dùng b.út than vẽ phân bò, rêu lưỡi giấy thô, cẩn thận như một thầy t.h.u.ố.c chẩn bệnh.

 

Nàng phát hiện bò phương Bắc thích ăn thức ăn khô, trong khi Giang Nam nhiều cỏ ẩm ướt, liền sai Triệu Thạch Đầu phơi khô cỏ mới cho ăn.

 

Bò phương Bắc chịu lạnh giỏi nhưng sợ nóng, nàng liền trải một lớp rơm lên mái chuồng bò, để che nắng mùa hè và giữ ấm mùa đông.

 

Điểm độc đáo nhất là lai tạo – nàng thấy trâu nước Giang Nam chịu ẩm, kháng bệnh , liền cho bò Nghê Hương giao phối với trâu nước. Ban đầu, những con bê sinh đều gầy yếu.

 

Nàng nản lòng, thử thử nhiều , dùng sữa bò trộn với thảo d.ư.ợ.c để cho bê uống, cuối cùng nuôi một giống bò mới chịu lạnh, chịu ẩm, cho sữa đậm đà.

 

Ngày đó, nàng kéo Lâm Nguyệt xem bê con, đến nhăn cả khóe mắt, chỉ vành lông trắng nhạt quanh cổ bê (giống hệt biểu tượng của bò Nghê Hương), chỉ móng chân của bê (chắc khỏe hơn móng trâu nước), hiệu "thành công ".

 

Lâm Nguyệt đặt tên cho giống bò mới là "Giang Nam Xuân", rằng "là nàng câm giúp bò phương Bắc, bén rễ mùa xuân ở Giang Nam".

 

Kỹ thuật lai tạo nàng câm vẽ tỉ mỉ trong "Nghê Hương Ngưu Phổ", từ chọn giống, phối giống đến chăn nuôi, mỗi bước đều hình ảnh và ký hiệu, ngay cả ngày thứ mấy khi bê con đời cần cho uống bao nhiêu sữa bò, đều đ.á.n.h dấu rõ ràng bằng b.út than.

 

Sau khi Triệu Thạch Đầu tiếp quản mục trường, y nuôi bò theo phương pháp trong sách, bò "Giang Nam Xuân" ngày càng khỏe mạnh, chỉ cung cấp cho các chi nhánh của Nghê Hương Ký mà còn phân phối cho các hộ nông dân lân cận, giúp họ cũng nuôi những giống bò sữa .

 

Chủ sự mục trường niên hiệu Hàm Thuần là Triệu Thuyên Trụ, cháu trai của Triệu Thạch Đầu. Y thường dẫn các tiểu nhị mới đến bia của nàng câm để nhận bò: "Các ngươi xem mắt bò , sáng, như những viên ngọc đen ngâm trong nước, mới là bò ."

 

"Xem móng bò , tròn, như bọc một lớp chai dày, mới sức mạnh... Những điều đều do lão phu nhân năm xưa chỉ dạy, thể sai ."

 

, thương nhân biển Tuyền Châu mua bò giống "Giang Nam Xuân", rằng mang đến hải ngoại để nuôi, Triệu Thuyên Trụ đồng ý, chỉ tặng cho họ một bản "Nghê Hương Ngưu Phổ".

 

"Lão phu nhân , bò là vật sống, cần theo thổ nhưỡng mà phát triển, cưỡng ép , nhưng phương pháp thì thể truyền. Hãy để họ theo sách, tìm giống bò phù hợp tại địa phương để phối giống, ắt sẽ nuôi 'Giang Nam Xuân' của riêng họ."

 

Cuốn "Nghê Hương Ngưu Phổ" đó, quả nhiên theo thuyền buôn trôi dạt đến Xiêm La, Ba Tư. Các mục dân địa phương theo phương pháp sách để lai tạo, nuôi những giống bò sữa thích nghi với khí hậu nhiệt đới. Dù hương vị sữa khác với "Giang Nam Xuân", nhưng vẫn mang theo sự kiên cường truyền từ Biện Kinh.

 

Một thương nhân Ba Tư trong thư rằng: "Những hình vẽ trong sách ngưu phổ còn linh nghiệm hơn cả kinh Phật, giúp chúng hiểu rằng, của ngon vật lạ là do kiên trì mà , chứ do tranh giành mà thành."

 

Trước bia đá của nàng câm, quanh năm luôn qua .

 

Các tiểu nhị mục trường ngang qua, sẽ cung kính cúi chào một cái, mới xem bò.

 

Các t.ử mới học nghề, A Hòa sẽ dẫn họ đến, chỉ bia đá mà .

 

"Sư phụ năm xưa dạy chúng , nấu sữa 'thành tâm', thành tâm ở ? Ở chỗ lười biếng khi chọn sữa, vội vàng khi nấu , khi trao cho khách, trong mắt nụ ..."

 

Một lão ăn mày mù lòa, năm xưa từng uống sữa của nàng câm trong ngôi miếu đổ nát, giờ đây mỗi ngày đều dò dẫm đến bia, dùng tay sờ tám chữ "Truyền Nghệ Vô Thanh, Vị Truyền Thiên Lý", lẩm nhẩm ngừng.

 

"Năm xưa chén sữa đó, ấm áp đến tận xương tủy , mới , đó ấm của sữa, mà là ấm của lòng ..."

 

Năm Hàm Thuần thứ mười, quân Nguyên uy h.i.ế.p Lâm An, các cửa hàng phố Hà Phường đóng cửa quá nửa, các tiểu nhị Nghê Hương Ký cũng đang bàn bạc xem nên di cư xuống phương Nam .

 

Trần Thủ Nghiệp, con trai của A Đào, dẫn đến bia đá của nàng câm. Mưa rơi tầm tã, đập bia đá lộp bộp. Y chỉ bốn chữ "Vị Truyền Thiên Lý", giọng vang vọng trong mưa càng thêm rõ ràng.

 

"Trà sữa của sư phụ, thể từ Biện Kinh truyền đến Lâm An, ắt sẽ từ Lâm An truyền đến những nơi xa hơn. Chỉ cần tay nghề còn đó, lòng sẽ tan rã, Nghê Hương Ký sẽ sụp đổ."

 

Ngày đó, họ , mà ở trong bếp lò của tổng hiệu, nấu một nồi sữa vị nguyên bản Biện Kinh đầy ắp, phân phát cho các binh sĩ canh giữ thành.

 

Hương sữa trộn lẫn mùi khói than, lan tỏa qua tường thành, tựa như một tiếng hô lời.

 

Nhiều năm , sử quan nhà Nguyên đến biên soạn "Tống Sử", trong tàn quyển của Lâm An thấy ghi chép về "Nghê Hương Ký nàng câm", chỉ vài lời ngắn ngủi, nhưng khiến y hiếu kỳ.

 

Y tìm đến cửa hàng đổi tên thành "Nghê Hương Trà Quán", thấy các tiểu nhị vẫn theo cuốn "Nãi Trà Yếu Quyết" để nấu , thấy bò trong mục trường vẫn mang dấu ấn "Giang Nam Xuân".

 

Thấy bia đá nơi ngoại ô thành, tám chữ "Truyền Nghệ Vô Thanh, Vị Truyền Thiên Lý", trong gió mưa vẫn rõ nét.

 

"Thì , sự truyền thừa kiên cường nhất, từ đến nay cần rêu rao."

 

Sử quan ghi câu sổ tay, khi ngẩng đầu, y vặn thấy một cô gái nhỏ đang học đ.á.n.h bọt sữa, chưởng quầy nắm lấy tay nàng, chiếc thìa bạc trong bát xoay chậm, như đang lặp một lời hứa vắt qua trăm năm.

 

Mưa bắt đầu rơi, rơi bia đá, rơi trong nồi đồng, rơi đôi bàn tay trẻ tuổi đó, hòa thành một dòng chảy ấm áp vô thanh, lan tỏa qua năm tháng, qua thời loạn, lan đến những nơi xa xôi hơn.

 

 

Loading...